Ảnh minh họa AI · không phải lá số
Tử Vi Đẩu Số
Mười hai cung, mười bốn chính tinh
Tử Vi đặt các sao vào 12 cung theo ngày giờ sinh âm lịch. Nhập năm, tháng âm lịch và giờ sinh để coi Cung Mệnh, Cung Thân và Cục của anh chị.
Bốn chỗ hay nghe sai
Tử Vi với Bát Tự là một.
Hai hệ công cụ khác nhau.
Bát Tự đọc Can Chi của bốn trụ. Tử Vi đọc vị trí các sao trong 12 cung.
Trần Đoàn chắc chắn viết sách Tử Vi đầu tiên.
Đó là truyền thống gán cho ông.
Trần Đoàn là người có thật, nhưng vai trò sáng lập chưa có tài liệu cùng thời xác nhận.
Phần mềm nào cũng ra lá số giống nhau.
Hai trường phái có thể khác nhau.
Tam Hợp phái và Phi Tinh phái an một số phụ tinh và luận giải khác nhau.
Có ngày dương lịch là lập được ngay.
Phải đổi sang âm lịch trước.
Đổi lệch âm lịch có thể làm lệch cả Cung Mệnh.
Tính Cung Mệnh, Cung Thân và Cục
Nhập năm, tháng âm lịch và giờ sinh. Dữ liệu chỉ tính trên máy của anh chị, không lưu và không gửi đi đâu.
Cần: năm sinh âm lịch, tháng sinh âm lịch, giờ sinh (canh giờ) · Không bắt buộc: ngày âm lịch, giới tính, nơi sinh: trang chưa dùng tới
Quy ước tính
- Lịch: Tử Vi dùng ngày giờ sinh âm lịch. Trang không tự đổi dương lịch sang âm lịch: sách ghi thuật toán lịch âm Trung Hoa có thể lệch 1 ngày so với lịch Việt Nam ở các ngày giáp Sóc. Anh chị tra lịch âm Việt Nam rồi nhập năm, tháng âm.
- Năm âm lịch dùng để lấy Can năm. Ngày âm lịch chưa cần, vì trang chưa an 14 chính tinh.
- Tháng nhuận: sách chưa nêu cách xử lý CHỜ CÔ LONG XÁC NHẬN. Trang dừng, không tính trường hợp này.
- Giờ sinh: chọn 1 trong 12 canh giờ (giờ Tý 23h–1h). Không rõ giờ: trang không tính, vì Cung Mệnh, Cung Thân và Cục đều phụ thuộc giờ sinh. Sách chưa nói tới việc đổi giờ theo kinh độ nơi sinh CHỜ CÔ LONG XÁC NHẬN.
- Công thức: tháng cung đếm thuận từ Dần (tháng 1); Cung Mệnh lùi, Cung Thân tiến theo số bước của giờ sinh; Cục theo Nạp Âm của Can Chi tại Cung Mệnh (Can tìm bằng Ngũ Hổ Độn).
- Giới tính: chỉ cần khi an Đại Hạn. Trang chưa tính Đại Hạn nên không hỏi.
- Phạm vi: chỉ bộ khung Cung Mệnh, Cung Thân, Cục. Chưa có chính tinh, phụ tinh, Đại Hạn.
Nguồn áp dụng: Long_Huyen_Hoc_Tu_Vi_Dau_So bản 1.1 (06/09/2026), mục 2.3, 4.4, 4.5, 6.1–6.3, 6.6; Ngũ Hổ Độn và Nạp Âm dùng chung bảng của Long_Huyen_Hoc_Bat_Tu bản 1.2 và Long_Huyen_Hoc_Ngu_Hanh_Can_Chi bản 1.0.
Coi cách tính từng bước
Mười hai cung
Mỗi cung ứng với một mảng của đời sống. Vị trí 12 Chi trên địa bàn cố định, nhưng cung nào rơi vào Chi nào thì đổi theo từng người.
Mười hai cung giống mười hai ô cửa của cùng một ngôi nhà: vị trí cố định, nhưng cửa nào mang tên cung nào thì tùy từng người.
| # | Cung | Ý nghĩa cốt lõi |
|---|---|---|
| 1 | Mệnh | Bản chất, tính cách, xu hướng tổng quát cuộc đời |
| 2 | Huynh Đệ | Anh chị em |
| 3 | Phu Thê | Hôn nhân, vợ chồng |
| 4 | Tử Tức | Con cái |
| 5 | Tài Bạch | Tiền bạc, khả năng tài chính |
| 6 | Tật Ách | Sức khỏe, bệnh tật |
| 7 | Thiên Di | Di chuyển, ra ngoài xã hội, quan hệ nơi xa |
| 8 | Nô Bộc | Bạn bè, đồng nghiệp, cấp dưới |
| 9 | Quan Lộc | Sự nghiệp, con đường công danh |
| 10 | Điền Trạch | Nhà cửa, đất đai, tài sản cố định |
| 11 | Phúc Đức | Phúc phần, đời sống tinh thần, ảnh hưởng dòng họ |
| 12 | Phụ Mẫu | Cha mẹ, người bảo trợ |
Thứ tự trên được 3 trong 4 nguồn mà bộ sách đối chiếu ủng hộ, chưa phải đồng thuận tuyệt đối. Cung Thân chỉ có thể trùng một trong sáu cung: Mệnh, Tài Bạch, Quan Lộc, Thiên Di, Phu Thê, Phúc Đức.
Mười bốn chính tinh
Chia hai hệ: hệ Tử Vi có 6 sao, hệ Thiên Phủ có 8 sao. Bảng dưới chỉ để tra nghĩa, chưa đặt sao vào lá số của ai.
| Sao | Hệ | Ngũ Hành | Ý nghĩa cốt lõi |
|---|
Đại Hạn
Chặng mười năm, đi thuận hay nghịch
Đại Hạn đầu tiên khởi tại Cung Mệnh, ở tuổi bằng số của Cục. Mỗi chặng dài 10 năm rồi chuyển sang cung kế bên.
Dương Nam và Âm Nữ đi thuận. Âm Nam và Dương Nữ đi nghịch. Âm Dương ở đây là của Can năm sinh.